Từ một nền kinh tế nông nghiệp với xấp xỉ 60% dân số sống dưới mức nghèo, Việt Nam đã chuyển mình trở thành một nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2010 (với thu nhập bình quân đầu người khoảng USD 1,130 và tỷ lệ nghèo chỉ ở mức 12% vào năm 2010). Thành tựu này đến từ kết quả của việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu bằng công cuộc “Đổi mới” năm 1986, chuyển từ nền nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ và công nghiệp. Điều này giúp Việt Nam trở thành một trong những nước đi đầu trong việc phát triển kinh tế cũng như bài học cho sự giảm đói nghèo trên thế giới.

 

Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội (2011 - 2020) định hướng các trọng tâm như i) ổn định nền kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tấng tiêu chuẩn thế giới, phát triển nguồn nhân lực cao, và thúc đẩy các định chế hướng tới thị trường. Thực hiện các trọng tâm này không thực sự dễ dàng khi triển khai do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trong giai đoạn (2009 - 2012), lạm phát cao, đồng tiền mất giá. Bên cạnh đó, các vấn đề thể chế cũng là hệ quả của sự phát triển nhanh. Vấn đề chủ yếu là: tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, thiếu tính đa dạng và giá trị gia tăng thấp trong các sản phẩm xuất khẩu, năng suất có xu hướng giảm, dân số trẻ cũng đang dần không còn là lợi thế, và thâm hụt lao động trình độ cao.

 

Với những thách thức kể trên, Việt Nam vẫn có những lợi thế và hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài do i) ổn định chính trị cao, cam kết của chính phủ trong việc tạo môi trường thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài, chi phí nhân công rẻ, và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu đặc biệt ở những thành phố lớn.

 

Việt Nam đứng thứ 14 và thứ 3 trong các nước đông dân lần lượt trên thế giới và Đông Nam Á, đồng thời có thị trường khoảng 93 triệu người với lợi thế của lực lượng dân số trẻ, và tỷ lệ nhân công biết chữ vào khoảng 53 triệu người. Đáng chú ý, khoảng 13% tổng dân số tập trung ở những thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh là tầng lớp trung lưu, và dự kiến con số này sẽ tăng lên trong những năm tới. Điều này chắc chắn sẽ dẫn tới xu hướng tiêu dùng theo hướng nhu cầu cao hơn cho chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ, cũng như chú trọng hơn về sức khỏe.

 

Việt Nam được biết tới như là một trong những nền kinh tế năng động. Tăng trưởng kinh tế giữa những năm 1991 và 2010, trung bình ở mức 7.5% hàng năm, và ở mức 5.6% vào giai đoạn 2011-2013 bất chấp những khó khan của nền kinh tế (như đã nêu trên). Cán cân thương mại chuyển từ thâm hụt sang thặng dư lần đầu tiên sau 20 năm, cụ thể 500 triệu đô la, 200 triệu đô la, và 2 tỷ đô la lần lượt vào các năm 2012, 2013 và 2014 (Tổng cục Thống kê). Đáng chú ý, khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp không nhỏ vào những thành tựu trên. Được kỳ vọng rằng thương mại và đầu tư vào Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trong bối cảnh tuyên bố kết thúc đàm phán các Hiệp định thương mại tự do với Cộng đồng chung Châu Âu (EU) và Hàn Quốc vừa qua (2014), sự hình thành của cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 và Hiệp định “thế kỷ” - Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương đang được đàm phán ở những giai đoạn cuối.    

 

Việt Nam cũng là điểm sáng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đông Nam Á và có nhiều lợi thế cạnh tranh (ví dụ: lao động giá rẻ, ổn định chính trị), và môi trường đầu tư mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài đang hưởng những ưu đãi về thuế, đất thuê, và nguồn vốn… Thống kê (tháng 04 năm 2014) chỉ ra rằng đã có tất cả 16,300 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam với số vốn cộng dồn thu hút được khoảng 238 tỷ đô la.

 

Nhà đầu tư đến từ 100 nước và lãnh thổ khác nhau, trong đó rất nhiều các tập đoàn lớn trên thế giới như Samsung, Panasonic, LG Electronics, Lotte Corporation… Ngành sản xuất và chế biến đứng đầu trong các ngành thu hút được vốn đăng ký FDI, tiếp đến là bất động sản. Đáng lưu ý rằng, Việt Nam vừa công bố một bản Kế hoạch hành động trong đó nêu rõ bốn ngành công nghiệp chủ đạo khuyến khích đầu tư nước ngoài. Đó là: điện tử, máy móc nông nghiệp, chế biến thủy sản, công nghiệp năng lượng và môi trường.

 

Chính phủ Việt Nam tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư bằng những biện pháp khác như i) xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng liên hoàn và chất lượng, ii) phát triển chất lượng nguồn nhân lực, và iii) cải thiện thể chế.